Hỗ trợ tìm nhà xe & Lịch trình
Hỏi thông tin xe Tư vấn miễn phí
Chat Zalo Hỏi SĐT Nhà xe

Lao ngoài phổi - Một số bệnh lao ngoài phổi thường gặp: - Cập nhật 11/09/2020

Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên. Thực tế bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận trong cơ thể nhưng lao phổi là thể bệnh phổ biến nhất. Tuy nhiên, để thanh toán bệnh lao chúng ta cần phải quan tâm đến điều trị và phòng ngừa các bệnh lao ngoài phổi khác.

Lao ngoài phổi - Một số bệnh lao ngoài phổi thường gặp

1. Lao hạch: vị trí thường gặp nhất là hạch cổ, điển hình là dọc cơ ức đòn chũm nhưng cũng có thể gặp ở các vị trí khác. Hạch sưng to, lúc đầu hạch chắc, riêng rẽ, di động, không đau nhưng sau đó dính vào nhau và các tổ chức dưới da nên kém di động, hạch có thể nhuyễn hóa, rò mủ; bệnh có thể khỏi và để lại sẹo xấu.

Chẩn đoán xác định bằng phương pháp sinh thiết hạch, chọc hút hạch để xét nghiệm mô bệnh học tế bào thấy chất hoại tử bã đậu, tế bào bán liên, tế bào lympho, nang lao; nhuộm soi trực tiếp tìm thấy vi khuẩn lao kháng cồn, kháng axít AFB (acid fast baccilli); ngoài ra có thể tìm vi khuẩn lao bằng phương pháp nuôi cấy bệnh phẩm chọc hút hạch; bệnh phẩm mủ có thể xét nghiệm Xpert…

2. Lao màng não - não: triệu chứng lâm sàng của bệnh lý viêm màng não thường khởi phát bằng dấu hiệu đau đầu tăng dần và rối loạn tri giác. Khám thường thấy có dấu hiệu cổ cứng và dấu hiệu Kernig dương tính. Có thể có dấu hiệu tổn thương dây thần kinh sọ não và dấu hiệu thần kinh khu trú như liệt dây thần kinh sọ não số III, VI, VII; rối loạn cơ tròn. Các tổn thương tủy sống có thể gây ra liệt ở 2 chi dưới như liệt cứng hoặc liệt mềm.

Chọc dịch não tuỷ ghi nhận có áp lực tăng, dịch có thể trong ở giai đoạn sớm và ánh vàng ở giai đoạn muộn, có khi vẩn đục. Xét nghiệm sinh hóa dịch não tủy thường thấy protein tăng và glucose giảm. Tế bào trong dịch não tủy tăng vừa thường dưới 600 tế bào/mm3 và tế bào lympho chiếm ưu thế, ở giai đoạn sớm tỉ lệ bạch cầu trung tính tăng nhưng không có bạch cầu thoái hóa mủ.

Chẩn đoán xác định dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, đặc điểm dịch não tủy và xét nghiệm sinh hóa tế bào dịch não tủy, có thể tìm thấy bằng chứng vi khuẩn lao trong dịch màng não tủy bằng nuôi cấy với tỉ lệ dương tính cao hơn khi nuôi cấy trên môi trường lỏng, nhuộm soi trực tiếp AFB dương tính với tỉ lệ rất thấp; dịch màng não có thể xét nghiệm Xpert.

Chụp cộng hưởng từ MRI (magnetic resonnace imaging) não có thể thấy hình ảnh màng não dày và tổn thương ở não gợi ý lao, ngoài ra chụp MRI não giúp chẩn đoán phân biệt bệnh lý khác ở não như u não, viêm não, ápxe não, sán não... Cần chẩn đoán loại trừ với các nguyên nhân khác như viêm màng não mủ, viêm màng não nước trong và các bệnh lý thần kinh khác.

3. Lao xương khớp: triệu chứng lâm sàng thường gặp ở cột xương sống với đặc điểm như đau lưng, hạn chế vận động, đau tại chỗ tương ứng với đốt xương sống bị tổn thương trong giai đoạn sớm; khi chuyển sang giai đoạn muộn sẽ gây biến dạng gù cột xương sống hoặc có dấu hiệu chèn ép tuỷ sống gây liệt.

Ngoài cột xương sống, lao còn hay gặp ở các khớp xương lớn với biểu hiện như sưng đau khớp xương kéo dài, không sưng đỏ, không đối xứng, có thể có dò mủ bã đậu. Chụp phim X-quang, chụp phim cắt lớp vi tính CT (computed tomography), chụp MRI cột xương sống, khớp xương thấy hẹp khe đốt xương sống, xẹp đốt xương sống hình chêm, có thể thấy mảnh xương chết và hình áp xe lạnh cạnh cột xương sống, hẹp khe khớp xương.

Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàng và các đặc điểm tổn thương trên phim chụp X-quang, chụp CT, chụp MRI cột xương sống, khớp xương; nếu có ápxe lạnh sẽ bị dò mủ, xét nghiệm mủ áp xe tìm AFB cho tỷ lệ dương tính cao; sinh thiết tổ chức cho phép chẩn đoán mô bệnh tế bào; dịch mủ khớp có thể xét nghiệm Xpert…

4. Lao tiết niệu - sinh dục: trên lâm sàng, triệu chứng hay gặp là rối loạn bài tiết như đi tiểu buốt, đi tiểu rắt kéo dài từng đợt, điều trị kháng sinh thì đỡ nhưng sau đó xuất hiện lại, có thể đi tiểu ra máu không có máu cục, nước tiểu có màu đục, đau thắt lưng âm ỉ. Lao sinh dục nam có thể gây sưng đau tinh hoàn, mào tinh hoàn; ít gặp trường hợp viêm cấp tính, tràn dịch màng tinh hoàn.

Lao sinh dục nữ có thể gây tiết dịch âm đạo bệnh lý hay khí hư, rối loạn kinh nguyệt, dần dần dẫn đến mất kinh nguyệt, vô sinh. Chẩn đoán xác định khi tìm thấy vi khuẩn lao trong nước tiểu, dịch màng tinh hoàn, dịch dò, khí hư bằng phương pháp nuôi cấy, tỷ lệ dương tính cao hơn khi cấy trên môi trường lỏng; nhuộm soi trực tiếp AFB cho kết quả dương tính với tỉ lệ rất thấp.

Chụp thận thuốc tĩnh mạch UIV (urographie intra veineuse) thấy hình ảnh gợi ý lao như đài thận bị cắt cụt, có hang lao, niệu quản chít hẹp...; soi bàng quang, soi tử cung và sinh thiết xét nghiệm mô bệnh học thấy tế bào có nang lao, xét nghiệm vi khuẩn lao để phát hiện; chọc hút dịch màng tinh hoàn thấy có đặc điểm như lao các màng khác trong cơ thể; chọc dò u tinh hoàn xét…

Thảo luận từ cộng đồng
Chưa có đánh giá nào
Viết nhận xét
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0